Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

NGHỆ SĨ NHÂN DÂN LÊ DUNG - TIẾNG HÁT MÃI CÒN XANH

Mình rất ngưỡng mộ cô Lê Dung - Hôm nay đọc được bài viết này của cô Minh Thái gửi cho Viet-studies, Xin được phép lưu lại tại trang blog này để đọc và cùng chia sẻ với các bạn yêu tiếng hát cô Lê Dung. 

Lê Dung về Trời,
tiếng hát mãi còn xanh …
  
Nguyễn Thị Minh Thái

  
 Nguyễn Thị Minh Thái &
Lê Dung (Matxcơva, 1991)



Một


…Tiếng hát Lê Dung còn ở lại, còn xanh vĩnh viễn với thời gian. Với không gian Hà Nội, với tấm lòng người Việt đầy nhớ nhung ân tình, dù chúng ta đang phải sống căng thẳng, bận rộn, âu lo ngay từ đầu thế kỉ 21 đầy biến động, bất trắc, cũng đầy thách thức khôn lường này…
Tôi từng nghĩ ngợi lan man thế, khi chầm chậm cùng bạn bè tiễn biệt, nhìn Lê Dung lần cuối trong một ngày tết Nguyên Đán Tân Tị 2001 tại Nhà tang lễ Quân y viện 108, kề cận sông Hồng.
 Tiếng hát Lê Dung từ đĩa CD bỗng từ đâu bồi hồi xao xuyến vọng về. Giọng nữ cao thánh thót, trong vắt như suối nguồn thiên thai chảy từ Đào Nguyên, run rấy non mảnh như tơ chùng phím loan…Không biết ai đó đã làm được cử chỉ quá lạ lùng: đặt vào máy những CD của Dung, phóng thanh tiếng hát Lê Dung trong suốt thời gian lễ tang người đàn bà hát này, vào chính ngày tang lễ của mình?
 Đâu rồi những chàng Kim Trọng, Từ Hải của Dung, từng “vò chín khúc”, từng “chau đôi mày”, cúi đầu nghe Dung hát trong khán phòng sang trọng Hà Nội, Moscow, Paris, Budapest, Bình Nhưỡng, Sài Gòn… hay trong nhóm nhỏ bạn bè ở cuộc vui nào đấy, trên chiếu rượu thân mật như nghe đào nương đất Thăng Long-Hà Nội lảnh lót đa đoan hát ca trù?
Tiếng hát Lê Dung đằm thắm, quấn quyện đa tình, nội lực thăm thẳm, đang tỏa lan, ngân rung run rấy không dứt trong đám tang mình.
  Tôi bỗng nghĩ, dường như Dung cô đơn ngay cả khi nằm trong áo quan, dung nhan còn hồng tươi đầy ham muốn sống, ham muốn hát, ham muốn yêu.
 Nhưng chính vào lúc ấy, Dung đã chỉ còn lại chính tiếng hát của mình và cái chết.
 Cả một giờ đồng hồ đưa đám, tôi đã nghe Dung hát mãi trong tang lễ mình, thân thương, thân mến du dương như sinh thời, Dung thường hát mê đắm hết bài này bài khác cho bạn bè, khi chúng tôi quây quần tụ họp ở nước Nga xa xứ những mùa lễ tết. Tiếng hát ấy, giờ đây, như nhất định nấn ná, nhất quyết không chịu buông bỏ dương thế, nhất định quanh quẩn luyến lưu trong đám đông bạn hữu, người thân, đang cúi đầu chầm chậm viếng người đàn bà hát, mà hôm nay, số phận buộc phải bay về trời vĩnh viễn. Nhưng không hiểu sao, người đàn bà sinh ra để hát ấy vẫn bướng bỉnh quyến luyến cõi trần ai tục lụy, đầy đớn đau khắc khoải này, hệt như quyến luyến người đàn ông mình quá yêu mà không nỡ dứt áo ra đi, chỉ muốn níu lại bằng tiếng hát. Lê Dung, có lẽ từng trải, như ai ai cũng đã từng cảm giác: đã sinh ra ở đời, sự sống và sự chết đều không tránh khỏi.
Có lẽ vì thế mà Dung đã sống, đã hát, đã yêu hết mình, để khi bất chợt (ai học được chữ ngờ), về cõi khác, đã để lại niềm thương tiếc, niềm yêu đương và nhất là để lại những bài hát còn xanh mãi. Bởi Dung đã hát bằng hồn cốt của cả đời mình cho người sống cùng thời của mình trên dương thế. Trong đám tang Dung, có lẽ ai cũng nhớ, cũng tri ân Dung mà rưng lệ, giữ cho mình mảnh kí ức về giọng ca vàng Lê Dung, để giọng ca ấy còn ngân nga mãi trong trái tim mình, kể cả khi những nhạc sĩ sáng tác bài cho Dung hát, đều đã gần như lần lượt về… cõi khác.
                                   
Hai

Hát hết sức đắm say và yêu cực kỳ đắm đuối là hai mặt thống nhất trong tính cách người-đàn-bà-sinh-ra-để-hát-để-yêu: Lê Dung
…Chúng tôi nhận nhau chị em, chỉ từ khi tôi sang Nga du học cuối năm Bính Dần 1986, sau Dung mấy tháng. Trước đó, còn ở Hà Nội, dù biết nhau, dù Dung đã làm lễ nhận con nuôi-môn sinh nghề hát của bác ruột tôi: NSND Thương Huyền từ nhiều năm trước, khi Dung từ vùng than Quảng Ninh về Hà Nội lập nghiệp hát và dần dà nổi tiếng, nhưng tôi hồi ấy vẫn không thích/ chưa chịu tính cách Lê Dung. Tôi khe khắt cho Dung là phụ nữ có bề ngạo mạn, cậy mình hát hay, tự cho mình cái quyền nhìn người bằng nửa con mắt, như thể “mục hạ vô nhân”.
Thêm nữa, trước khi thực tập ở Nhạc viện Tchaikovski, từ Hà Nội, Dung đã bất cẩn mà cao hứng tuyên bố: Khỏi mua vé khứ hồi, chắc tôi không về! Vì thế, lẽ ra phải được du học Nga từ cuối 1985, song chỉ vì lỡ miệng, Dung phải ở lại Hà Nội một năm, để suy ngẫm và chứng tỏ mình là sĩ quan quân đội, hàm cấp tá, chẳng qua chỉ “nói đùa cho vui”, rồi mới được Bộ Văn hóa-Thông tin tái cử đi học vào mùa thu 1986 ở Matxcova. Tôi sang sau Dung, đi thẳng tàu hỏa xuống nhập học năm thứ nhất nghiên cứu sinh ở Viện đại học Âm nhạc-Sân khấu-Điện ảnh Quốc gia Leningrad (nay là St. Petersburg). Sau một năm, khi có việc sang Praha, Tiệp Khắc, tình cờ gặp Dung ở Sứ quán Việt Nam tại Matxcova, phố Abalenxki, chúng tôi mới thành chị em. Đó là nhờ bác tôi, Thương Huyền, truyền qua chị Ngọc Minh, con gái thứ của bác, ca sĩ Dàn Nhạc Giao hưởng hợp xướng Việt Nam, chị họ tôi. (Bố tôi, ca sĩ Văn Hanh là em trai ruột, sau bác Huyền một đốt. Hai chị em cả đời hát ở Đoàn Ca nhạc Đài TNVN). Chị Minh tôi dặn dò cả Dung lẫn tôi trước khi du học: Hai đứa phải là chị em. Phận số đã bảo như thế. Bác và chị đều muốn các em thương mến nhau, giúp nhau học ở nước Nga cho thành tài! Gặp nhau ở sứ quán Việt, phố Abalenxki, Matxcova, trong phòng Quản lý lưu học sinh, cùng nhớ lời bác Thương Huyền và chị Ngọc Minh, hai chị em thân quý nhau ngay.
 Tôi nhớ khi đó, Dung gọi tôi bằng chị, cư xử rất niềm nở dịu nhẹ và nhanh nhảu sống động. Dáng người thanh mảnh. Váy dạ đen, áo len xanh dương bó sát, rất mốt, tóc cài nơ duyên dáng, giọng ngọt ngào, Dung đưa tôi về kí túc xá Nhạc viện Tchaikovski và ngay đêm đó đã mời bè bạn đến nghe Dung hát cho chị, là tôi đấy,đỡ nhớ Hà Nội và nhớ con. Dung hát dứt bài “Đêm đông”, mọi người lặng đi. Mắt Dung chợt xa vắng, nghiêng vào tai tôi, thì thào bỏ nhỏ: Em đang nhớ thằng cu Tý xót ruột xót gan đây! Vẻ cứng cỏi, hơi ngạo mạn vậy thôi, thực tình, Dung là người mong manh, dễ mủi lòng, rơi lệ, và có khi rất dễ vỡ… (Cắt nghĩa tính mình đa cảm, hay tủi thân ngầm, Dung bảo: em phận vợ lẽ con thêm. Bố Dung là ông cai Lỳ mỏ than Quảng Ninh, mẹ Dung lẽ mọn, chỉ độc nhất con gái Lê Dung. Bố chết, Dung chỉ còn mẹ già ở Hà Nội, tại nhà một chị bạn kết nghĩa, nghệ sĩ chèo, trông nom dùm). Ra đường nhanh như sóc, miệng nói tay làm, khéo ăn khéo nói, duyên dáng mặn mà, lúc nào Dung cũng có vài đàn ông mộ điệu theo sau. Rồi Dung cũng phải lòng một người hơn Dung vài tuổi, chín chắn, chu đáo, yêu thương lo lắng cho Dung như huynh trưởng trong nhà. Dung bảo, bây giờ em chỉ có thể nương tựa vào người như thế, em không thể phiêu lưu cùng một chàng trai trẻ. Em nặng gánh gia đình. Em muốn được yên tâm.
 Mùa hè 1989, Dung cùng người ấy xuống St. Petersburg chỗ tôi, kí túc xá sinh viên ở đảo Vaxili chơi đêm trắng huyền diệu, mà cả nước Nga, ngoài kinh thành cũ ấy của vua Pie đệ nhất, không một nơi nào có được. Những đêm trắng huyền ảo lộng lẫy ấy khiến cả hai thật hạnh phúc. Dung hát cho sinh viên Việt ở chỗ tôi nghe, rồi sang Bulgaria thi hát opera quốc tế. Tchaikovski là Viện đại học Âm nhạc Nga xô-viết có tiếng về phương pháp đào tạo âm nhạc mẫu mực, nhất là thanh nhạc của Đông Âu. Lê Dung đã học xuất sắc, về nước 1990, trở thành giảng viên thanh nhạc của Nhạc viện Hà Nội, với tấm bằng thạc sĩ. Tôi mừng theo cách Dung “nhận thực”: tự biết mình đã trọn phần Đạo, tốt nghiệp xuất sắc Nhạc viện lừng danh châu Âu, trở thành người hát opera số một bấy giờ. Đạt đẳng cấp quốc tế, bởi các danh hiệu được trao trong các cuộc thi hát opera quốc tế. Về phần Đời, Dung đã có một người đàn ông của mình. Dung về Việt Nam trước tôi, chưa kịp hưởng hạnh phúc, đã phải khóc mẹ mất, viết thư sang cho tôi, lá thư nhòe nước mắt…

Ba

Song, cuộc đời là thế, đầy những bất ngờ, những quà tặng, sự lên hương và cả những cú ngã ngựa của số phận.
 Năm 1991, Dung thi hát opera quốc tế ở Bình Nhưỡng. Tôi lên Matxcova về Hà Nội thăm con, Dung cũng ghé ngang đó. Chúng tôi lại tình cờ gặp nhau, cùng ăn tối chia tay bạn bè ở tiệm ăn Hà Nội, gần quảng trường Hồ Chí Minh ở Matxcova, và về Hà Nội trên cùng chuyến bay. Suốt chuyến bay dài hơn nửa ngày trời, Dung chỉ kể với tôi về mối tình mới “sét đánh” với một thi sĩ trẻ, nhỏ hơn Dung đến gần một con giáp, và băn khoăn, không biết nói lời chia tay với người ấy thế nào. Tôi chỉ biết nghe Dung, như bao giờ cũng biết tính Dung, ngay cả trong yêu: “em muốn là trời muốn”.
Chuyến bay không ngủ, mắt Dung long lanh hạnh phúc, kể chuyện, rồi khóc, cười, hát nho nhỏ, rồi đọc thơ của chàng thi sĩ trẻ, tuổi Nhâm Dần. Đến sân bay, hai chị em đang hồi hộp chờ qua cửa khẩu hải quan Việt, đã từ đâu ào tới một dáng trẻ trai. Ôm chầm lấy Dung. Nhấc bổng. Quay một vòng trên cánh tay rắn chắc. Hạ xuống đất nhẹ nhàng. Reo mừng. Hôn đắm đuối. Người ấy là thi sĩ HTQ, nhà báo, trang Quốc tể Báo Quân đội Nhân dân. Thảo nào, với thẻ nhà báo, Q. đã ào vào tận đây đón Dung.
Ngay chiều hôm ấy, chúng tôi đi café phố Hàm Long. Dung và thi sĩ trẻ âu yếm nắm tay nhau không rời, bên ly café đen không đường nóng rẫy  hương vị Hà Nội. Thi sĩ tóc bềnh bồng, mắt mơ màng sau cặp kính trắng, nắm tay Dung, nhỏ nhẹ với tôi: “Với em, Lê Dung bao giờ cũng 17 tuổi”. Tình yêu “như trái phá con tim mù lòa”(ca từ Trịnh Công Sơn) ấy đã làm Dung trẻ lại đúng tuổi 17 đáng ao ước: “17 tuổi lòng ai không hồi hộp, ngồi trong rạp hát đợi màn lên”(thơ Lưu Quang Vũ). Và từ đấy cho đến khi về cõi, (dù tình yêu với thi sĩ trẻ, khi thành tình chồng vợ, đã dẫn đến cuộc chia tay định mệnh sau đó), vẫn đã là cả một quãng sống trữ tình và thăng hoa nhất của Dung trong nghiệp đời và nghiệp hát. Không ai có thể hát hay, nồng cháy, đa tình, kĩ thuật hoàn hảo hơn Dung, như Dung và được phong tặng danh hiệu cao quý: Nghệ Sĩ Nhân Dân, ngay khi còn trẻ như Dung hồi bấy giờ và có lẽ cho đến tận ngày hôm nay…
 Dung mê say hết lòng lối hát dân ca độc đáo, đặc hiệu của NSND Thương Huyền. Dung ngấm sâu vào lòng chất lãng mạn cách mạng và chất lãng mạn đồng quê Việt vốn có, quấn quyện rất hài hòa trong giọng nữ cao vút, sáng trong mà trời đã cho Thương Huyền. Chính Lê Dung đã học được cách hát, cách buông câu nhả chữ thần kì, cách rung hột vô cùng nhẹ nhõm tinh tế của Thương Huyền, để trở thành người hát ôpera số một Việt Nam, với Dàn nhạc Giao Hưởng Việt Nam trong suốt hai thập niên cuối thế kỉ 20. Nhờ có sự học thông minh sáng láng này, cùng những tháng ngày tập luyện gian khổ, bền bỉ ở nhạc viện Tchaikovski, Dung đã có lối hát nhẹ như bấc, giọng hát trong vắt du dương, đẫm đầy tình cảm. Lạ nhất là Dung đã mang theo hành trang hát của mình tất cả những gì học được của thế hệ trước: Thương Huyền, Minh Đỗ, Kim Ngọc, Thái Thanh, Khánh Ly… vào nghệ thuật hát opera vốn dĩ của Tây Phương. Dung đã phả vào opera Phương Tây một tình điệu thuần Việt, khi sử dụng thông minh, nhuần nhuyễn kĩ thuật cao cường của một lối hát “rặt” phương Tây.
Từng hầu như chinh phục công chúng TP HCM trong lần đầu tiên gặp mặt cuối năm 1992, và sau đó hoàn toàn chinh phục công chúng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nước ngoài, với lối hát opera đặc sắc, cách xử lí tài năng về kĩ thuật hát và độ chín tình cảm của Lê Dung trong âm vực cao nhất của giọng nữ cao (soprano), đã làm công chúng yêu giọng hát vàng Lê Dung, nghe Dung hát, đã bỗng dưng có khi chỉ muốn…khóc.
Đã trải vài thập niên nghe hát, với sự yêu mến riêng tư thiên lệch nghệ sĩ Thương Huyền bác ruột tôi, tôi e rằng, sau Thương Huyền, mất  năm 1989, chỉ có thêm Lê Dung, ở thế hệ sau, đã đưa công chúng Việt yêu nhạc, vào những vùng âm thanh đỉnh của tác phẩm ca khúc Việt và không chỉ Việt, bằng sự trong vắt của ngân rung cao vời, không mảy may gợn chút tạp âm, trong trẻo thông suốt như đường lên trời. Lê Dung quả là giọng hát đầy nội lực đến mức có thể tự sinh, càng hát càng chín, càng tươi thắm, càng mặn mòi như muối chín đọng thành hạt lấp lánh sáng dưới ánh mặt trời. Vậy mà chính lúc đó, cung đàn đứt ngang dây.
 Lê Dung ra đi, để lại một tiếng hát còn xanh mãi với thời gian …
 Nguyễn Thị Minh Thái

 Tác giả gửi cho viet-studies ngày 12-1-12